Học thuyết âm dương: Sự cân bằng trong y học

Học thuyết âm dương, một khái niệm đã tồn tại suốt gần 3.000 năm, đã được người xưa nhận thấy sự mâu thuẫn và thống nhất trong tất cả các hiện tượng tồn tại trong vũ trụ. Học thuyết âm dương không ngừng vận động và biến đổi, tạo ra sự phát triển và suy tàn. Trong y học, học thuyết âm dương được áp dụng trong tất cả các khía cạnh từ cấu trúc cơ thể, sinh lý, bệnh lý, chẩn đoán và các phương pháp chữa bệnh.

Các quy luật cơ bản trong học thuyết âm dương

Âm dương đối lập với nhau

Âm dương là sự mâu thuẫn, chế ước và đấu tranh giữa hai mặt đối lập. Ví dụ, ngày và đêm, nước và lửa, ức chế và hưng phấn.

Âm dương hỗ căn

Âm dương hỗ căn là sự nương tựa lẫn nhau. Hai mặt âm dương tuy đối lập với nhau nhưng chỉ khi nương tựa lẫn nhau mới tồn tại và có ý nghĩa. Cả hai mặt đều mang tính tích cực của sự vật và không thể tồn tại và phát triển độc lập. Ví dụ, không có sự khác biệt mới có sự đa dạng, hoặc ngược lại, nếu không có sự đa dạng thì tiến trình đồng nhất sẽ không tiếp tục. Sự hưng phấn và ức chế đều là quá trình hoạt động tích cực của não bộ.

Âm dương tiêu trưởng

Tiêu trưởng là sự mất đi và phát triển, thể hiện sự chuyển hoá không ngừng của hai mặt âm dương. Ví dụ, khí hậu bốn mùa trong năm luôn thay đổi từ lạnh sang nóng và từ nóng sang lạnh, tạo ra quá trình “âm tiêu dương trưởng” và “dương tiêu âm trưởng”. Sự vận động của âm dương có tính giai đoạn, đạt đến một mức độ nào đó sẽ chuyển hoá sang nhau. Đây là lý do tại sao chúng ta có khí hậu mát, lạnh, ấm và nóng. Trong quá trình phát triển của bệnh tật, bệnh ở phần dương có thể ảnh hưởng đến phần âm hoặc ngược lại, dẫn đến tình trạng thoát dương.

Âm dương bình hành

Hai mặt âm dương tuân theo quy luật không ngừng vận động và luôn duy trì thăng bằng và trạng thái cân bằng giữa chúng. Sự mất thăng bằng giữa âm dương làm lộ sự mâu thuẫn và sự nương tựa lẫn nhau của vật chất. Khi áp dụng 4 quy luật này trong y học, chúng ta cũng nhận thấy một số nguyên tắc sau:

  • Tương đối và tuyệt đối của âm dương: Sự đối lập giữa âm dương là tuyệt đối, nhưng trong một số điều kiện cụ thể, nó cũng có tính tương đối. Ví dụ, hàn là âm đối lập với nhiệt, nhưng lương (mát) là âm đối lập với ôn (ấm). Trên lâm sàng, sốt (nhiệt) thuộc dương, nhưng trong trường hợp sốt cao thuộc lý, cần sử dụng thuốc hàn. Sốt nhẹ thuộc biểu, cần sử dụng thuốc mát (lương).

  • Trong âm có dương và trong dương có âm: Âm và dương tồn tại và nương tựa lẫn nhau, thậm chí xen kẽ nhau trong quá trình phát triển. Ví dụ, chia thời gian trong một ngày (24 giờ): ban ngày thuộc dương, từ 6 giờ sáng đến 12 giờ trưa là phần dương của dương. Từ 12 giờ đến 18 giờ là phần âm của dương; ban đêm thuộc âm, từ 18 giờ – 24 giờ là phần âm của âm và từ 0 giờ đến 6 giờ là phần dương của âm. Trên lâm sàng, khi sử dụng thuốc làm ra mồ hôi để hạ sốt, cần lưu ý tránh mất quá nhiều nước và điện giải, vì sẽ gây ra các triệu chứng hư thực, hàn nhiệt lẫn lộn. Về cấu trúc cơ thể, các cơ quan thuộc âm như là phế, thận có cả âm và dương, và thận thuộc âm và dương.

  • Bản chất và hiện tượng: Thông thường, bản chất thích hợp với hiện tượng, khi điều trị bệnh, chúng ta điều trị vào bản chất của bệnh. Ví dụ, khi bệnh là hàn, sử dụng thuốc nhiệt; khi bệnh là nhiệt, sử dụng thuốc hàn. Tuy nhiên, đôi khi bản chất không phù hợp với hiện tượng, được gọi là “thật giả” trên lâm sàng. Trong trường hợp này, chúng ta cần xác định đúng bản chất để điều trị nguyên nhân. Ví dụ, bệnh truyền nhiễm gây sốt cao (nhiệt) có thể gây ra truỵ mạch ngoại biên (âm hàn giả), vì vậy cần sử dụng thuốc mát để điều trị bệnh. Bệnh tiêu chảy do lạnh (âm hàn) gây mất nước, điện giải và nhiễm độc thần kinh, có thể gây sốt và co giật thậm chí là truỵ mạch.

Các quy luật âm dương và các nguyên tắc liên quan được biểu hiện bằng một hình tròn với hai vòng cong chia diện tích thành hai phần bằng nhau: một phần là âm và một phần là dương.

Ứng dụng trong y học

Học thuyết âm dương được áp dụng trong y học từ nhiều khía cạnh khác nhau.

Về cấu tạo cơ thể và sinh lý

Âm đại diện cho các tạng, kinh âm, huyết, bụng, trong, dưới, trong khi dương đại diện cho phủ, kinh dương, khí, lưng, ngoài, trên.

Tạng thuộc âm do tính chất âm có mặt dương, nên được chia ra làm phế âm, phế khí; thận âm, thận dương; can huyết, can khí; tâm huyết, tâm khí. Phủ thuộc dương như vì có mặt âm trong dương nên có vị âm và vị hoả.

Vật chất dinh dưỡng thuộc âm, còn năng lượng hoạt động thuộc dương.

Về quá trình phát sinh và phát triển của bệnh tật

  • Bệnh tật phát sinh do sự mất thăng bằng âm dương trong cơ thể và được biểu hiện bằng thiên thắng và thiên suy. Thiên thắng là dương thắng gây chứng nhiệt như sốt, mạch nhanh, khát nước, táo, nước tiểu đỏ; âm thắng gây chứng hàn như người lạnh, tay chân lạnh, mạch trầm, ỉa lỏng, nước tiểu dài. Thiên suy là dương hư như suy não, hội chứng hưng phấn thần kinh giảm; âm hư như mất nước, điện giải, hội chứng ức chế thần kinh giảm.

  • Trong quá trình phát triển của bệnh, tính chất của bệnh cũng chuyển hoá giữa âm và dương. Bệnh ở phần dương có thể ảnh hưởng đến phần âm và ngược lại. Ví dụ, sốt cao kéo dài có thể gây mất nước. Bệnh ở phần âm có thể ảnh hưởng đến phần dương. Sự mất thăng bằng âm dương gây ra các triệu chứng bệnh ở các vị trí khác nhau trong cơ thể, tuỳ thuộc vào vị trí ở phần âm hay dương. Dương thịnh sinh ngoại nhiệt gây sốt, người và tay chân nóng. Âm thịnh sinh nội hàn gây ỉa chảy, người sợ lạnh, nước tiểu dảo. Âm hư sinh nội nhiệt gây khát nước, họng khô, táo, nước tiểu đỏ. Dương hư sinh ngoại hàn gây sợ lạnh, tay chân lạnh.

Về chẩn đoán bệnh tật

  • Dựa vào 4 phương pháp khám bệnh (nhìn, nghe, hỏi, sờ nắn, xem mạch) để khám phá các triệu chứng thuộc âm hay dương, hàn hay nhiệt, hư hay thực của các tạng phủ kinh lạc.

  • Dựa vào 8 cương lĩnh để đánh giá vị trí và tính chất của bệnh, trạng thái của người bệnh và xu thế chung của bệnh (biểu lý, hư thực, hàn nhiệt và âm dương) trong đó âm và dương là 2 nguyên tắc tổng quát nhất. Thường bệnh thuộc biểu, thực, nhiệt thuộc dương, bệnh thuộc lý, hư, hàn thuộc âm.

  • Dựa vào tứ chẩn để khám phá các triệu chứng và dựa vào bát cương bệnh tật để xác định các hội chứng thiên thắng hay thiên suy về âm dương của các tạng phủ, kinh lạc.

Về chữa bệnh và các phương pháp chữa bệnh

  • Chữa bệnh là quá trình điều hoà sự mất thăng bằng âm dương trong cơ thể dựa trên tình trạng hư thực, hàn, nhiệt của bệnh thông qua các phương pháp khác nhau như thuốc, châm cứu, xoa bóp, khí công.

  • Thuốc được chia thành hai loại: thuốc lạnh, mát (hàn, lương) thuộc âm để chữa bệnh nhiệt, thuốc nóng, ấm (nhiệt, ôn) thuộc dương để chữa bệnh hàn.

  • Trong châm cứu: dùng châm để chữa bệnh nhiệt, dùng cứu để chữa bệnh hàn. Trong trường hợp bệnh là hư, thì bổ; bệnh là thực thì tả. Các tạng (thuộc âm) sử dụng các huyệt Du sau lưng (thuộc dương), phủ (thuộc dương) sử dụng các huyệt Mộ ở ngực, bụng (thuộc âm), theo nguyên tắc: “theo dương dẫn âm, theo âm dẫn dương”.

Học thuyết âm dương không chỉ là một khái niệm trừu tượng mà còn là một khía cạnh quan trọng trong y học. Hiểu biết về học thuyết này giúp chúng ta hiểu rõ hơn về sự cân bằng và tương quan giữa các yếu tố âm và dương trong cơ thể, giúp chúng ta tìm ra những giải pháp chữa bệnh hiệu quả dựa trên nguyên lý này.

Nguồn: vatm.edu.vn