Tịnh Độ Cư Sĩ Phật Hội Việt Nam (TĐCSPHVN) đã trải qua hơn 20 năm hoạt động chính thức, với sự phát triển mạnh mẽ từ năm 1951 đến 1955. Ngày nay, khắp miền Nam Việt Nam, hơn 100 ngôi chùa Tịnh Độ đã “hạnh huỳnh phấp phới nêu cao phướn”. Mỗi khi một ngôi Tam Bảo được lạc thành, ít nhất một phòng thuốc Nam phước thiện cũng được khai trương, thể hiện tinh thần Từ bi Bác ái của Hội. Để giúp đồng bào hiểu rõ hơn về đường lối tu học của TĐCSPHVN, bài viết này sẽ tóm tắt và giải thích các khái niệm cốt lõi của Hội.
Tìm hiểu về Tịnh Độ
“Tịnh Độ” xuất phát từ Tịnh Độ Tông, một trong mười hai tông phái của Phật giáo. Người tu theo Tịnh Độ sử dụng pháp môn niệm Phật để cầu vãng sanh Tây phương Cực lạc, hay còn gọi là vãng sanh Tịnh Độ.
Tịnh có nghĩa là trong sạch, còn Độ là quốc độ, tức là một cõi hay một nước trong sạch, thanh tịnh. Cõi Tịnh Độ ngập tràn niềm vui, không có khổ não như cõi Ta Bà, vì thế còn được gọi là Cực Lạc.
Tịnh Độ được phân thành nhiều loại, mỗi loại mang một ý nghĩa riêng biệt. Nếu xét về sự tu chứng, có ba cấp độ Tịnh Độ tượng trưng cho ba bậc tu từ thấp lên cao, thuộc về Duy Tâm Tịnh Độ, bởi chúng do tâm tu mà chứng đắc:
- Phương Tiện Hữu Dư Tịnh Độ: Dành cho người đoạn hoặc chứng chơn ở bậc thấp, tương ứng với Hữu Dư Niết Bàn.
- Thiệt Báo Trang Nghiêm Tịnh Độ: Dành cho người đoạn hoặc chứng chơn ở bậc trung, tương ứng với Vô Dư Niết Bàn.
- Thường Tịch Quang Tịnh Độ: Dành cho người đoạn hoặc chứng chơn một cách rốt ráo, tương ứng với Đại Bát Niết Bàn.
Ngoài ra, khi nói về sự vãng sanh, có nhiều cõi Tịnh Độ khác nhau:
- Tây phương Tịnh Độ của Đức Phật A Di Đà.
- Lưu Ly Tịnh Độ hay Đông phương Tịnh Độ của Đức Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai.
- Phàm Thánh Đồng Cư Tịnh Độ của Đức Từ Phụ Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni.
- Đâu Suất Tịnh Độ của Đức Di Lặc.
Điểm đặc sắc của Tông Tịnh Độ là sau khi quy y Tam Bảo, phát tâm niệm Phật, trì trai giữ giới, người hành giả dù chưa đoạn hoặc chứng chơn vẫn có cơ hội được vãng sanh.
Cư Sĩ và Phật Hội
Cư sĩ là những người tại gia tu hành, đóng vai trò mật thiết trong giáo hội tăng già. Theo kinh sách Phật giáo, giáo hội thời xưa bao gồm bảy chúng, trong đó có hai chúng tại gia. “Tăng già” (Sangha trong tiếng Phạn) có nghĩa là sự hòa hiệp, chung cùng của một nhóm người, không chỉ riêng cho người xuất gia.
Phật Hội là một tổ chức Phật giáo do các cư sĩ thành lập, được xây dựng vững chắc trên nền tảng Tam tụ và Lục hòa.
Tam tụ
Tam tụ bao gồm ba nguyên tắc cơ bản:
- Dứt bỏ mọi điều ác.
- Thực hành mọi điều lành.
- Mở lòng từ bi thương xót và cứu độ chúng sanh.
Lục hòa
Lục hòa là sáu nguyên tắc hòa hợp mà các thành viên TĐCSPHVN đều tôn trọng, đặc biệt nếu vi phạm sẽ bị xem là lỗi nặng, còn gọi là “Phá hòa hiệp chúng”, tức phá hoại giáo hội.
- Thân hòa đồng trụ: Cùng nhau hòa hiệp, thỏa thuận khi ở chung, không cậy quyền, không ỷ thế, không lấn lướt hay hà hiếp kẻ dưới. Luôn có sự hòa thuận, không vì chính kiến, trình độ hay giai cấp mà bất hòa.
- Khẩu hòa vô tranh: Đối đãi nhau ôn hòa, nhã nhặn, dịu ngọt trong lời nói và hành vi. Tránh lời nói thô tục, nặng nề, quát tháo, châm chọc hay hạ nhục người khác.
- Ý hòa đồng duyệt: Kính trọng, quý mến lẫn nhau, không trái ý hay chống đối. Nên có những ý kiến xây dựng, khuyến khích, cùng chung lo tính toán một cách nhã nhặn.
- Giới hòa đồng tu: Cùng nhau tuân thủ giới cấm, không vi phạm kỷ luật của Giáo hội. Đồng tình cho người khác phạm giới cũng là vi phạm kỷ luật.
- Kiến hòa đồng giải: Chia sẻ kiến thức, sự hiểu biết về chơn lý Đại thừa trong quá trình tu chứng. Người nào ngộ được đạo tâm qua kinh điển, tham thiền cần chia sẻ để đạo hữu cùng tiến bộ.
- Lợi hòa đồng quân: Quyền lợi về tinh thần hay vật chất, nếu có chung thì phải chia đều, không tham lam, bỏn sẻn, che giấu hay gian lận.
Tóm lại, TĐCSPHVN là một Hội Phật của người Việt Nam, dành cho người tại gia tu theo pháp môn Tịnh Độ.
Tôn Chỉ Của Tịnh Độ Cư Sĩ Phật Hội Việt Nam
Để thân tâm được thúc liễm, Đức Tông Sư Minh Trí yêu cầu đệ tử luôn niệm Phật mọi lúc, mọi nơi, bất kể đi đứng nằm ngồi. Để tác phước thiện duyên và trau dồi trí bát nhã, Ngài vạch ra con đường Phước Huệ Song Tu, đúng với châm ngôn: “Tài pháp nhị thí thỉ thành công, Phước Huệ lưỡng toàn phương tác Phật.” nghĩa là “Thí tài, thí pháp ắt thành công, Phước Huệ song toàn mới thành Phật.”
Hình ảnh trừu tượng tượng trưng cho trí tuệ và huệ giác, hai yếu tố quan trọng trong tu hành Phật pháp
Tu Phước
Phước là kết quả của những điều lành, tức là những việc từ thiện giúp đỡ chúng sanh thoát khổ được vui, như lời dạy “Từ năng dữ lạc, Bi năng bạt khổ.” (Từ bi có thể ban vui, nhổ khổ). Tu phước chính là thực hiện chủ nghĩa Từ bi bác ái của nhà Phật.
Việc tu phước giúp chúng ta trở về gốc lành, hòa hợp với bản tánh chân như, bởi bản tánh chúng sanh vốn thiện lành nhưng đã xa rời nguồn gốc do mê nhiễm lạc thú trần gian. Kinh Phật dạy: “Tu nhất thiết thiện pháp, tức đắc A-nậu-đa-la Tam-miệu-tam-bồ-đề.” (Tu tất cả pháp lành thì chứng quả Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, tức là thành Phật). Con đường này không chỉ có trong Phật giáo mà còn được nhiều tôn giáo khác ở cả phương Đông và phương Tây khuyến khích, nhằm đạt đến Chân, Mỹ, Thiện.
Một số người thắc mắc vì sao TĐCSPHVN lại đề xướng Phước Huệ Song Tu khi tôn chỉ Phật giáo là “Từ bi bác ái, tự giác, giác tha”. Thực chất, “Từ bi bác ái” cần được thể hiện qua hành động cụ thể để cứu khổ ban vui, và Tu Phước chính là cách hữu hiệu nhất. Tương tự, “Tự giác, giác tha” không chỉ là sự hiểu biết suông, mà cần dùng mọi phương tiện để giúp đời, cứu đời, thức tỉnh người khác bằng trí huệ. Vì vậy, “Phước Huệ Song Tu” chính là sự thực hành của “Từ bi bác ái, tự giác, giác tha”.
Tu Huệ
Huệ là trí huệ, sự hiểu biết sáng suốt, khả năng phân biện, lý luận, quan sát và thấu hiểu sự thật của vạn vật, tức là Chơn lý của Vũ trụ vạn hữu. Tu Huệ là mài giũa trí hiểu biết của mình cho đến mức Đại Trí Huệ Quang Minh, tức là Trí Phật.
Người đời thường lầm tưởng thông thuộc kinh luật là có trí huệ. Tuy nhiên, thông thuộc và hiểu rõ là hai việc khác nhau. Người Trí huệ thực sự là người suốt thông, thâm hiểu và sống đúng Chơn lý, không chấp bỏ, không mỏi mê thối chuyển. Đức Lục Tổ Huệ Năng trong Pháp Bửu Đàn Kinh dạy rằng: “Bát-nhã là tiếng Phạn, Tàu dịch ra là Trí huệ. Bất kỳ xứ sở nào, thời khắc nào, niệm niệm chẳng mê, hằng làm theo lòng trong sạch của mình, tức thị là hạnh Bát-nhã.”
Trí Bát-nhã Ba-la-mật hay Trí huệ đến bờ bên kia là trạng thái không sanh không diệt, lìa cảnh mà thoát trần, như nước thông lưu. Đây là Trí Phật, vừa trạm tịch (vắng lặng), vừa thường hằng (vô thủy vô chung), tràn đầy vũ trụ, không chấp một mảy trần cũng không bỏ một sự một pháp. Người có trí huệ là người sáng suốt, dùng sự sáng suốt ấy tùy duyên hóa độ chúng sanh. Việc lập công bồi đức mà chấp giữ công đức cao dày thì không khác gì người phàm tục.
Trí Thường, một môn đồ của Đức Huệ Năng, sau khi nghe kệ dạy về việc không chấp vào các pháp, đã ngộ ra rằng tự tánh vốn giác ngộ, và nếu tâm còn chấp một niệm ngộ thì khó thoát mê. Nhà Tổ tượng trưng cho cảnh giới “Ly ngôn tuyệt tướng, tâm—Phật đều vong, muôn cảnh êm đềm, một màu vắng bặt.” Người tu học chưa đạt cảnh giới này sẽ không khỏi chấp vào hai đầu (có/không, tướng/tánh).
Trong thời mạt pháp, nghiệp chướng chúng sanh sâu dày, khó dứt tham lam, sân hận, si mê. Để đạt cảnh giới trong sạch sáng suốt, cần tiến từng bước trên đường học Phật. Vì lẽ đó, Đức Tông Sư Minh Trí của TĐCSPHVN đã sáng lập các phòng thuốc và cơ quan phước thiện xã hội, trước là cứu khổ ban vui cho đời, sau là tạo cơ duyên cho hội viên và thiện tín lập công bồi đức. Các Thánh nhân đã dạy: “Phước đức dẫn thông-minh-lộ.” Phước đức là con đường thẳng tiến đến thông minh, trí huệ, và các cơ quan từ thiện xã hội của TĐCSPHVN là phương tiện thiện xảo dẫn dắt thiện tri thức về miền Cực Lạc.
Đạo hữu nên hiểu rằng, dù công quả trực tiếp hay hỗ trợ tài chính, điều cốt yếu là phải luôn thực hành chủ nghĩa “lợi kỷ lợi tha, từ bi hỷ xả” của Đức Như Lai. Trong lục độ vạn hạnh, hạnh Bố thí ba-la-mật là đầu tiên. Bố thí ba-la-mật là thí bỏ một cách rộng lớn, thâm sâu, không hối tiếc tiền bạc, công sức, không sợ nghèo đói hay ốm đau. Thực hành hạnh này đầy đủ sẽ bao gồm cả năm pháp còn lại: Trì giới, Nhẫn nhục, Tinh tiến, Thiền định và Bát-nhã (Trí huệ).
Không chấp tiền của là không chấp pháp. Không sợ nhọc nhằn là biết thân này như con thuyền qua sông mê bể khổ. Khi ngã và pháp đều không còn, con người hiệp nhất với Phật, trở về Chơn như Diệu tánh. Bố thí ba-la-mật mà không chấp mình đã bố thí, đó mới thật là Pháp Đàn ba-la-mật. Người thực hành bố thí ba-la-mật có tâm bình (không cần giữ giới), nhẫn nhục (quên mình làm lợi cho người), tinh tiến (không thối chuyển), thiền định (tâm không tán loạn, bản tánh không động) và trí huệ (thấy các tướng đều là phi tướng, tức thấy Như Lai).
Niệm Phật cũng là một phương pháp tu huệ. Giữ giới sinh Định, có Định sinh Huệ. Niệm Phật thanh tịnh ba nghiệp là giới, nhất tâm niệm Phật không tán loạn là Định, niệm Phật minh bạch, rõ ràng lục tự Di Đà là Huệ. Trong Định có Huệ, trong Huệ có Định. Tánh định huệ này không lìa tướng tưởng niệm A Di Đà Phật, đủ cả thể, dụng, tướng. Niệm Phật như vậy tuy không ngồi thiền định mà vẫn có thiền định: ngoài không nhiễm trần, trong không tán loạn.
Đức Huệ Năng đã dạy Trí Hoàng thiền sư rằng nếu chấp vào tướng ngồi thiền mà không hiểu “thường định”, thì dù ngồi hai chục năm cũng khó tỏ Đạo. Niệm Phật không cần ngồi, bất luận đi, đứng, nằm, đều có thể sử dụng Định Huệ. Đừng chấp tướng niệm Phật, đó là lối sử dụng Định Huệ cao siêu nhất, Định Huệ đồng dụng.
Nếu thấy các tướng mà chẳng phải tướng, tức thấy được bản tánh Như Lai, xa lìa tất cả tướng, đó chính là chư Phật. Người than tu lâu mà không có Định Huệ nên xem lại mình có giữ mười giới không. Định Huệ có thể hiểu đơn giản là khi ta nhận ra vọng tưởng, dừng tâm an định, rồi nhớ đến câu niệm Phật hoặc chơn lý Phật pháp, khiến tâm không còn vọng động. Khi lý trí được thỏa mãn, không còn thắc mắc, nghi pháp, đó là Định Huệ của bậc Thánh.
Ý Nghĩa Tạo Tượng Và Cúng Dường Phật Pháp
Vào ngày Vía Đức Phật A Di Đà năm Giáp Ngọ (1954), TĐCSPHVN đã tổ chức lễ Cung nghinh Phật Tổ Như Lai từ Tân Hưng Long Tự về Hưng Đức Tự, với sự tham dự của gần một vạn Phật giáo đồ. Năm Ất Mùi, mười lễ cung nghinh Phật đã được cử hành trọng thể, mang lại niềm tin vững chắc về tiền đồ Phật pháp. Đặc biệt, lễ cung nghinh Phật về quận hội Hớn Quản ngày mùng 6 tháng 10 năm ấy đã tạo nên một quang cảnh trang trọng và náo nhiệt chưa từng thấy, với nhà nhà trưng bày hương án, chiêm bái Phật Tổ.
Một số người có thể thắc mắc liệu TĐCSPHVN có mâu thuẫn khi hô hào chấn hưng Phật giáo mà lại tổ chức nhiều lễ cung nghinh Phật, có vẻ như lôi kéo quần chúng vào mê tín dị đoan. Chúng tôi hiểu những ưu tư này. Tuy nhiên, trong bối cảnh thế gian đầy khổ đau, luân lý đảo điên, chúng tôi cần hành động để thức tỉnh người đời. Việc sùng bái tôn thờ Phật là một phương tiện thiện xảo hữu hiệu, dĩ huyễn độ chân (dùng cái giả để độ cái thật), nhằm giúp nhân loại giảm dục vọng lợi danh, trọng nhân nghĩa và xây dựng niềm tin vào Phật pháp.
Thái tử Sĩ Đạt Ta đã từ bỏ ngai vàng, vợ đẹp con khôn để tìm con đường hạnh phúc cho chúng sanh, há không xứng đáng cho hậu thế tôn kính, phụng thờ hay sao? Có người cho rằng lễ bái sụp lạy làm mất thời gian, quen thói lòn cúi, mất nhân cách. Nhưng thử hỏi, nếu ai cũng giữ nhân cách như vậy, quả địa cầu này đã thành Cực Lạc. Nhân loại vì quá tự kiêu, tự đắc, mê nhiễm trần tục nên chìm đắm trong bể khổ, lấy khổ làm vui. Cái gọi là “nhân cách” nếu không đi đôi với việc xa lánh điều xấu, phục vụ chính nghĩa, biết xét lỗi mình, học hỏi và sửa đổi thì chỉ là hư danh.
Lễ bái tôn thờ Phật là bổn phận, trách nhiệm để tỏ lòng tri ân bậc vĩ nhân đã chỉ dạy con đường chân chính. Lễ bái không phải để ỷ lại Phật lực hay cầu mong phước quả, mà là để noi gương Phật, lập hạnh Phật. Hạnh Phật là bác ái, từ bi, hỷ xả. Phật tử phải thương yêu tất cả chúng sanh không phân biệt, ra tay tế độ người cơ hàn, nâng đỡ cô nhi, an ủi người sa ngã. Hỷ xả là vui vẻ tác phước thiện duyên mà không mong cầu phước báo, tiến đến chỗ oán thân bình đẳng.
TĐCSPHVN thệ nguyện: “Đâu có khổ có đau là có Tịnh Độ Cư Sĩ.” Hội là bạn trung thành, đầy hy sinh, giàu nhẫn nại của đồng bào. Lễ bái tượng Phật không phải mê tín dị đoan, mà là để trọn đạo làm người, nhắc nhở gương sáng của Thái tử Sĩ Đạt Ta, khuyên nhủ thiện nam tín nữ học Phật, tu Phật để ngộ nhập Phật tánh. Thái tử Sĩ Đạt Ta, một phàm nhân như chúng ta, đã tu chứng đến bậc Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, được xưng là Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Ngài đã tuyên bố: “Ta là Phật đã thành, chúng sanh là Phật sẽ thành.” Để theo dấu chân Ngài, chúng ta phải hiểu đúng nghĩa chữ Phật.
Phật không phải là thượng đế, thần linh hay chúa tể ban phước giáng họa. Phật là danh từ có nghĩa là giác ngộ hoàn toàn, sáng suốt triệt để, hiểu biết tuyệt đối vũ trụ vạn hữu. Hiểu biết vũ trụ là đạt Chơn Lý. Chơn Lý là Phật, Phật là Chơn Lý. Phật là một hình dung từ tối thượng, tuyệt đối, tượng trưng các đức tánh tự tại vô ngại, chẳng sanh chẳng diệt, không thêm không bớt, thanh tịnh, bình đẳng. Tất cả vạn vật trong vũ trụ, tinh thần lẫn vật chất, đều là hiện tượng của Phật hay Chơn Lý. Như ngài Cổ Phong Trăn mô tả: “Liễu xanh hoa đỏ, sẻ hót quạ kêu, vạn vật muôn trùng đều đồng một bản thể, không sai không khác, tức là Phật hay Chơn Lý vậy.” Thờ Phật tức là thờ Chơn Lý, và phải hành động đúng với Chơn Lý, thực hành chủ nghĩa Bác ái, Từ bi, Hỷ xả của Đức Thích Ca.
Phật giáo và Khoa học
Nhiều đạo giáo đều chủ trương làm lành lánh dữ và hướng về Chơn Lý. Chúng tôi chọn Phật giáo vì Phật giáo phủ nhận thần quyền, không cho có một đấng tạo hóa nào là cha sinh của vạn vật. Các Đấng thiêng liêng, Trời, Tiên, Thần, Thánh có mặt là điều chắc thật, nhưng không có quyền lực ban phước và giáng họa. Ngay cả Đức Phật Thích Ca cũng không có quyền cho chúng ta thành Phật, thành Tiên; điều đó do sự học tập, tu hành của chính mình theo giáo lý của Ngài.
Phật giáo còn chủ trương thuyết bình đẳng đại đồng: Phật và chúng sanh đồng một bản thể, một Phật tánh. Mê muội là chúng sanh, giác ngộ là Phật. Chơn Lý là Lý chắc thật, tự hữu và hằng hữu, tràn đầy vũ trụ vô biên vô tận, không hình không sắc, nhưng khi đủ nhân duyên lại biến sanh vạn vật. Nếu có kẻ trí người ngu, giàu nghèo, đó là do nghiệp chướng quả báo. Luật nhân quả không sai chạy. Khoa học ngày nay cũng chứng minh rằng không chỉ hành động, lời nói mà cả tư tưởng của chúng ta đều được ghi lại trong không trung. Một cá nhân trọn đời tưởng lành, nói lành, làm lành sẽ tạo ra những “lằn nếp” mạnh mẽ, bao bọc chở che thân tâm.
Thuyết vô thần quyền và bình đẳng đã được Đức Phật Thích Ca giảng dạy hơn 25 thế kỷ. Khoa học hiện đại cũng dần chứng minh một phần các lý thuyết này. Từ các nhà triết học Hy Lạp Démocrite và Platon, đến các nhà bác học Leibnitz, Berkeley, Max Planck với Lượng tử thuyết (1900), và đặc biệt là Albert Einstein với lý thuyết vật chất là năng lực (1905), đều có những quan điểm tương đồng với Phật giáo về nguồn cội vũ trụ. Các nhà khoa học khi phá tan nguyên tử chỉ thấy những luồng ánh sáng, quang ba biến lẫn trong không trung. Điện tử, hay “lân hư trần” theo Phật học, là thể chất của vạn vật. Tuy nhiên, để điện tử biến hóa ra vạn vật, tất phải còn một Lý huyền vi mầu nhiệm nữa.
Theo Đức Phật Thích Ca, Lý huyền vi có tài năng biến hóa đó là Chơn Lý, Chơn Thể, Chơn Như, Chơn Không, Chơn Tâm, Phật Tánh… Đó chỉ là những cưỡng danh, tạm gọi, vì Chơn Lý không thể nghĩ bàn, suy lường. Kinh A Di Đà mô tả Phật Tánh là “Linh minh đồng triệt, trạm tịch thường hằng, phi trược phi thanh, vô bối vô hướng; đại tai Chơn Thể, bất khả đắc nhi tư nghì giả.” (Chơn thể đã linh thiêng lại sáng suốt, vừa rỗng rang thông suốt khắp cùng, vừa trong trẻo vắng lặng. Chơn Thể thường còn, không dơ không sạch, không tới không lui, lớn thay, không thể nghĩ bàn).
Kết Luận
Thế nhân thường nói: “Làm lành chẳng Phật thì Tiên, Chẳng vương thì bá cũng quyền công khanh.” Các bậc Thánh nhân xưa cũng dạy rằng làm 1300 điều lành sẽ thành thiên tiên, làm 1500 điều lành sẽ chứng bậc đại giác kim tiên. Làm lành mà không nghĩ bàn, không tính toán, tùy duyên hóa độ, không chấp mình làm, người hưởng, của thí, thì phước đức không thể đo lường. Như Phật Tổ đã dạy ngài Tu Bồ Đề trong Kinh Kim Cang: “Không tâm mà bố thí, công đức khó so lường. Tế độ người nghèo thiếu, nghĩa nhân chớ tính bàn. Hạnh phàm phu thấp thỏi, hay cổ võ khoe khoang. Muốn rõ hình đàn thí, hư không khắp thập phương.”
Chúng tôi tha thiết mong muốn khơi gợi mối từ tâm của quý ngài. Dù theo Phật, Khổng, hay bất kỳ tôn giáo nào, nghĩa vụ của con người, đặc biệt là người hành chính đạo, là trang trải “Nguồn thương chí thiết” khắp cùng, không phân biệt. Việt Nam, non sông gấm vóc, đất địa phì nhiêu, tinh thần bất diệt, chỉ cần “Nguồn thương chí thiết” sẽ biến thành Cực Lạc quốc. Nguồn thương này vốn có sẵn trong mỗi chúng ta, chỉ cần thức tỉnh và sử dụng thì sẽ mãi không cạn.
Việt Nam đã thu hồi nền tự chủ, vươn mình trên trường quốc tế. Dân tộc Việt Nam lại giàu lòng nhân ái. Thời cơ đã đến để xây dựng một cảnh Nhơn Gian Tịnh Độ, đầy đủ hạnh phúc cho nhân loại, tự do bình đẳng cho muôn loài.
Mặc dù Đạo cao siêu mầu nhiệm, tiềm tàng bí ẩn, và tài đức của người phàm phu khó lòng miêu tả trọn vẹn Chơn Lý hay Bồ Đề Chơn Tâm, nhưng chúng tôi đã cố gắng hết sức để biện chứng rằng hành Bố thí ba-la-mật sẽ dẫn đến một nguồn trí huệ quang minh tuyệt đối. Tu phước (là bố thí) cũng chính là tu huệ. Chúng tôi cũng đã trình bày một vài phát minh khoa học, đặc biệt là lý thuyết của Albert Einstein, cho thấy sự tương đồng với chơn lý của Đức Phật Thích Ca rằng vạn vật trong vũ trụ đều do một Thiệt Tướng, một Chơn Thể biến hiện.
Sống trong thời mạt pháp, chúng ta may mắn được khoa học chứng minh một phần lý thuyết của Đức Bổn Sư. Chúng tôi ước mong rằng từ nay, các hàng Phật tử tại gia và xuất gia sẽ không còn nghi nan về học thuyết đã chọn, sẽ dũng mãnh tu tập và tinh tiến hoằng dương Phật pháp, hầu biến cải xã hội hiện đại thành cảnh Nhơn Gian Tịnh Độ, đầy đủ hạnh phúc cho nhân loại và tự do bình đẳng cho muôn loài.
Nguyện cầu cho âm siêu dương thới, lưỡng lộ tồn vong, tổng giai thành Phật đạo.
NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT.
